Trước thực trạng giá chè của Việt Nam chỉ bằng một nửa so với giá chè thế giới, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Xuân Hùng cho rằng, cần phải xem lại việc tiếp thị thị trường và khâu đóng gói, bao bì sản phẩm, đặc biệt phải chú ý hơn tới khâu quảng bá, làm cho thế giới hiểu về “văn hoá chè” của nước ta.
PV: Xin Thứ trưởng cho biết những tồn tại trong ngành chè nước ta hiện nay?
Thứ trưởng Hồ Xuân Hùng: Thứ nhất, cho đến nay, người ta hiểu về ngành chè chưa nhiều, mặc dù bất cứ ai cũng đều dùng chè hàng ngày. Đặc trưng riêng của ngành chè là tính văn hoá. Sản phẩm nông nghiệp, ngoài văn hoá ẩm thực, chỉ có thêm văn hoá chè, không có lĩnh vực nào khác được gọi là văn hoá. Đây là điều mà lâu nay rất nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp chưa biết khai thác, thậm chí là đầu tư chưa đúng mức. Phải hiểu được như vậy mới tính lại được cách đầu tư.
Thứ hai, đến nay nước ta có gần 1 triệu lao động trong ngành chè nhưng thu nhập bình quân chỉ đạt 170 USD/ người/ năm (chỉ tính những người làm chè từ khâu trồng đến chế biến, chưa kể những người bán nước chè rong). Con số này quá ít ỏi mà chúng ta cần nhìn lại và đầu tư lại. Có một thực tế, cùng một nước nhưng thu nhập của lao động ngành chè tại Lâm Đồng cao gấp 5 lần (do có vốn nước ngoài đầu tư vào). Sự chênh lệch quá cao này, đòi hỏi chúng ta phải làm sao để giải quyết vấn đề này ngay.
 |
|
Thu hoạch chè
|
Thứ ba, chúng ta chưa quy hoạch rõ vùng chè. Trong khi đó, các mặt hàng khác như gạo, cà phê, cao su, rừng đều đã có quy hoạch rõ ràng. Hiện nay, cây chè là một trong những cây xoá đói giảm nghèo bền vững hơn những cây khác; vùng cây trè tham gia xoá đói giảm nghèo khó khăn hơn các vùng khác (lúa gạo, thuỷ sản). Như vậy, khi tính lại quy hoạch của nó để tạo đầu tư ổn định cho nhà doanh nghiệp và hộ gia đình là điều chưa làm được.
Thứ tư, cây chè mang tính công nghiệp rất cao, từ khâu trồng đến chế biến và tiêu thụ. Tôi nghĩ, cần phải đảm bảo công bằng thu nhập cho người nông dân trồng chè với những cây trồng khác. Điều này phụ thuộc vào chính sách đầu tư và chính sách giá cả (phụ thuộc rất nhiều vào thị trường)
Thưa ông, với những biện pháp can thiệp để phát triển thị trường nội địa thì khó khăn hiện nay là gì?
Tôi rất mừng vì gần đây Bộ Chính trị đã phát động chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Không phải chỉ chúng ta mới làm như thế mà cả thế giới cũng làm vậy. Nếu ai đã đến các nước Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản sẽ thấy điều này. Ví dụ, tại Nhật Bản, nếu mua 1kg gạo ở đây giá sẽ cao gấp 8 lần so với gạo ở Việt Nam do thuế đánh 7,8 lần đối với sản phẩm gạo nhập khẩu, nhằm hướng người trồng lúa và người dân nước này ăn gạo của chính nước họ làm ra.
Trong khi chúng ta kêu gọi các nhà sản xuất phải lo nâng cao chất lượng sản phẩm (CLSP)
 |
|
Thứ trưởng Hồ Xuân Hùng
|
thì người dân cũng đòi hỏi ngày càng cao về (CLSP). Đây là nhu cầu rất chính đáng và cần khuyến khích cho người Việt Nam. Nhưng theo đó, đôi khi chính sách này không hẳn chỉ là chất lượng khi xu hướng của nhu cầu bị tác động bởi ngoại cảnh…và làm con người đi theo hướng ngoại. Vấn đề đặt ra rất lớn là làm sao cho người Việt ý thức và tự hào được về những sản phẩm của chính mình. Đồng thời, các doanh nghiệp phải tự xây dựng sự sống còn của mình. Cây trồng, vật nuôi trong nước trước hết phải hướng vào thị trường nội địa (cho tất cả người dân Việt Nam).
Được biết, mô hình công ty chè Phú Bền là công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài và được đánh giá là rất thành công. Theo ông, việc phát triển Công ty theo dạng như vậy ở VN có tốt không?
Tôi nghĩ là tốt. Một số nước xung quanh ta hạn chế, không khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực Việt Nam và tìm mọi cách cho người Việt tự làm lấy để xuất khẩu. Nhưng giai đoạn này, chúng ta rất cần tranh thủ tối đa (kể cả về giống, vốn, kỹ thuật của nước ngoài và đặc biệt là thị trường). Vì nếu không có họ thì họ và thế giới đều không biết đến Việt Nam.
Ông đánh giá như thế nào về tính khả quan của sàn giao dịch chè, theo như dự kiến sẽ đi vào hoạt động bắt đầu từ năm 2010?
Tôi rất ủng hộ việc ra đời sàn giao dịch chè. Đó là sân chơi sòng phẳng nhất. Thế nhưng thực sự mà nói thì rất khó. Vì khối lượng chè của nước ta chưa nhiều, tuy chúng ta nói rằng Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu chè nhưng mới chỉ có 150 triệu USD. Con số này quá nhỏ nhưng tôi tin nếu biết tổ chức thì từ nhỏ sẽ thành lớn.
Hiện nay có thực trạng giá chè của VN xuất khẩu giá chỉ có hơn 1.000 USD/ tấn, trong khi đó giá chè thế giới gấp đôi. Như vậy, rất thiệt thòi cho người trồng chè Việt Nam. Có ý kiến nhận định, càng xuất khẩu lại càng thiệt, theo ông đâu là giải pháp cho thực trạng này?
Cách đây 10 năm chè VN xuất khẩu cũng đã đạt 2.000 USD/ tấn rồi. Còn hiện nay mới chỉ đạt 1.500 USD/ tấn thì chúng ta phải xem lại. Chắc chắn nhu cầu thị trường chè là phát triển nhưng khối lượng cung không phát triển lắm thì nước ta phải xem lại trong việc tiếp thị thị trường và tổ chức tất cả từ bao bì, đóng gói, cách thức…Chè là ngành rất đặc trưng là có văn hoá chè (cách mời chè, thưởng thức chè…). Nếu chúng ta chưa làm cho thế giới hiểu về điều này thì không những giá là 1.500 USD/ tấn mà còn có thể xuống nữa.
Hiện nay, việc tiếp thị, quảng cáo rất quan trọng. Khi một doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam thì quảng cáo rất hoành cháng, làm cho tiêu dùng tin. Vậy, tại sao các doanh nghiệp chè Việt Nam nói riêng lại không dùng những chiêu này?
Đúng. Về cơ chế chi phí sản xuất của nước ta, Bộ Tài chính cho phép là 10% cơ cấu giá trị chứ không phải ít. Trước đây là 3% đến 5% rồi 7% và xung quanh con số trong ngành lên 10%. Về mặt chính sách của Chính phủ dành cho tiếp thị, quảng cáo không nhỏ nhưng tại sao các doang nghiệp của ta không dùng đến hoặc dùng không đúng mục tiêu để hướng vào quảng bá ngành chè? Quảng bá ngành chè không thể như sản phẩm khác mà phải bằng cụ thể. Chẳng hạn, tại trung tâm hội chợ triển lãm, người ta bán nước ngọt, phải đưa cho khách từng cốc một thưởng thức trực tiếp chứ không thể lên truyền hình hay báo chí được. Đây là điều khác biệt trong quảng cáo ngành chè.
Xin cảm ơn ông!
Theo VnMedia |