Gia đình ông Bàng Thanh ở thôn Khuôn Gà, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên được đồng bào cả nước biết đến do có nhiều nỗ lực vượt khó vươn lên làm giàu từ làm kinh tế trang trại vườn đồi. Với 5 ha đất đồi, ông qui hoạch thành từng lô thích hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi gồm: 0,2 ha ruộng lúa, 1 ha trồng chè, 0,4 ha trồng cây ăn quả, 0,14 ha ao cá, 1,4 ha vườn đồi.
Nhìn vào diện tích được sử dụng, tôi hỏi: Sao bác để đất trồng cây lâm nghiệp rộng hơn đất trồng chè? Ông Bàng Thanh trả lời: Anh nghĩ là tôi lãng phí đất phải không? Muốn khai thác tốt 5 ha đất đồi tôi phải trồng và giữ lại vành đai cây xanh để chắn gió và giữ độ ẩm cho các loại cây trồng trong vườn, vì thế 1 ha chè của gia đình tôi mới xanh tốt quanh năm. Ông bảo: Dòng tộc nhà ông đã sinh sống trên vùng đất này được 5 đời nên ông am tường và biết cách để khai thác có hiệu quả từng tấc đất. Nhưng chỉ trông chờ vào quĩ đất là chưa đủ, theo ông lao động và vốn liếng mới có ý nghĩa quyết định. Về nhân công, trong nhà chỉ có ông bà thường xuyên “bám” đất, vì vậy gia đình ông phải thuê từ 2-3 người thạo việc trong mùa thu hái, chế biến sản phẩm. Còn về vốn, chủ yếu là lấy ngắn nuôi dài, nhưng trong làm ăn gia đình ông đã gặp cơ may bởi ông là người tiên phong áp dụng kỹ thật trồng chè cành nên được nhà nước hỗ trợ vốn mua giống và hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm bón, phòng bệnh và thu hái, chế biến sản phẩm. Ông kể: Khi quyết định bỏ giống chè cũ, mọi người trong gia đình cũng như bà con trong xóm đều ái ngại vì từ xưa đến nay đã thấy ai trồng chè bằng cành đâu. Bởi vậy, việc làm của gia đình ông được nhiều người quan tâm và đã đem lại niềm tin cho người trồng chè vì chè cành phát triển tốt, năng suất hơn hẳn giống chè cũ và có chất lượng, được nhiều khách hàng ưa thích. Vậy là gia đình ông trở thành mô hình sản xuất kinh doanh chè cành không chỉ cho bà con trong xã, trong huyện mà còn cho nhiều đoàn ở tỉnh Sơn La, Lai Châu đến học tập. Với cây chè cành, ông Bàng Thanh đã khẳng định cách làm mới, vẫn đồng đất ấy khi con người biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất thì không những thoát nghèo mà còn làm giàu. Bà con xóm Khuôn Gà gọi ông là triệu phú chè. Người trồng chè đã sống được bằng cây chè. Chỉ tính riêng sản phẩm từ chè, mỗi năm gia đình ông thu được hơn 100 triệu đồng. Ngoài nguồn thu chủ lực từ chè, các khoản thu khác từ cá, cây ăn quả, gà, lợn, cây cảnh cũng được từ 50-70 triệu đồng. Có nguồn thu ổn định từ cây chè là do ông biết cách chọn giống và thâm canh, nên mặc dù giá cả trên thị trường diễn biến phức tạp nhưng sản phẩm chè của gia đình ông làm ra đều đảm bảo chất lượng nên được khách hàng bao tiêu tại nhà. Nhờ giữ được chữ “ tín” nên gia đình ông luôn được khách hàng tin cậy và không bị thương gia ép giá. Trong quá trình sản xuất, gia đình ông luôn năng động bám sát thị trường, phương châm của ông là giữ nguyên những sản phẩm lợi thế và chỉ phát triển thêm các sản phẩm “ăn khách” như cây cảnh, nhím sinh sản. Với cây cảnh, ông chọn cây tùng là cây chủ lực, hiện nay có cây khách hàng trả 20 triệu nhưng ông vẫn chưa bán.
Cùng với phát triển cây cảnh, ông còn về Hà Nội mua giống cây sưa, cây dó bầu, cả hai loại gần 1.000 cây, giá từ 5-7.000 đồng/cây.
Nhím sinh sản, hiện nay gia đình có 5 đôi, nuôi được hơn một năm, có 2 đôi đã đẻ con. Giá bán tại nhà là 30 triệu đồng/ cặp đã sinh sản và 14 triệu đồng/cặp tách mẹ. Nguồn thức ăn cho nhím do gia đình sản xuất, chủ yếu là bí ngô, bí xanh, ngô, khoai, sắn, đu đủ. Có thể nói gia đình ông đã khai thác tốt thế mạnh về đất đai, lao động và sử dụng có hiệu quả đồng vốn đầu tư nên từ một nông dân nghèo khó, gia đình ông đã trở thành một trong những gia đình sản xuất kinh doanh giỏi của tỉnh Thái Nguyên. Ông đã hai lần được về Hà Nội dự Hội nghị gia đình sản xuất kinh doanh giỏi và tham dự đại hội Anh hùng, chiến sỹ thi đua toàn quốc (năm 2000).
Ông được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen và nhiều Bằng khen, Giấy khen của các Bộ ngành ở Trung ương, của tỉnh, huyện và xã. Nhờ thu nhập khá, ông đã xây được ngôi nhà 3 tầng, mua sắm xe máy, ti vi, tủ lạnh và các đồ gia dụng đắt tiền. Các con ông đều ngoan, chăm làm, học giỏi. Ngoài việc chăm lo nâng cao đời sống gia đình, ông còn làm tốt công tác từ thiện, giúp đỡ người nghèo trong thôn xóm làm đường, kéo điện, vay vốn sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật để họ thoát nghèo. Trong phong trào mua công trái xây dựng Tổ quốc, gia đình ông đã mua 40 triệu đồng gia đình ông xứng đáng là tấm gương cho toàn thể cộng đồng học tập.
Lê Vui
|