Thái Nguyên có những vùng chè nổi tiếng như Tân Cương (T.P Thái Nguyên), Minh Lập (Đồng Hỷ) và Tức Tranh (Phú Lương). Với tổng diện tích 16.726 ha, trải khắp địa bàn các huyện, thị và thành phố, trong đó 15.118 ha chè đang cho thu hái với sản lượng 140.000 tấn búp tươi/năm.
Đặc biệt các hộ dân vùng ven sông Cầu, sông Đào và sông Công... những nơi có nguồn sinh thuỷ thuận lợi đã đầu tư vào thâm canh chè vụ Đông, với diện tích 7.390 ha, đạt giá trị trung bình 30 triệu đồng/ha/năm.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp & PTNT, cơ cấu giá trị sản xuất cây chè chiếm khoảng 13,26% trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp. Mặc dù vậy, cây chè cũng chưa thật sự phản ánh đúng hiệu quả so với thực tế, nguyên nhân do khâu chế biến và bảo quản sản phẩm chè chưa được các địa phương chú trọng quan tâm, nên chất lượng chè chưa được nâng cao. Khâu chế biến sản phẩm chè chủ yếu tập trung ở hộ gia đình, tự sản xuất và tự chế biến. Hiện nay toàn tỉnh mới chỉ có 10 đơn vị chế biến và bảo quản sản phẩm chè theo quy mô lớn và chỉ có 50% sản lượng chè được chế biến công nghiệp, còn lại chủ yếu được chế biến bán công nghiệp và thủ công. Theo hình thức chuyên dịch vụ, cả tỉnh mới có 156 hộ tham gia, chiếm 3,6% trong tổng số hộ chế biến chè, chủ yếu là sản xuất chè xanh.
Với cây chè, quá trình chế biến hết sức quan trọng, nó quyết định cho 1 giá trị sản phẩm. Ngay tại Thái Nguyên, có doanh nhân nhờ chú trọng đầu tư vốn cho khâu chế biến nên đã cho ra thị trường được một số sản phẩm chè đạt chất lượng có giá trị kinh tế cao, hơn 1 triệu đồng/kg chè thành phẩm, song cũng có loại chè được chế biến, giao bán với giá bình dân, hơn 20.000 đồng/kg... Có thể nói rằng, công nghệ chế biến ra một sản phẩm chè tại Thái Nguyên liên tục được đổi mới, nâng cao. Gần 30 năm trước, việc chế biến chè tại các nông hộ 100% công đoạn được thực hiện thủ công. Do vậy chè thu hái về không sao, sấy kịp bị ôi ngốt, chất lượng chè giảm, chưa kể ngoài nhiều diện tích chè không được thu hái vì việc sao, sấy không kịp. Cho tới năm 1980, người trồng chè đã biết sử dụng tấm tôn phẳng để chế biến chè. Vừa sao, vừa vò ngay trên bếp lò, với cách làm bán thủ công này đã đạt được năng suất cao hơn, ngặt nỗi chất lượng chè lại thấp hơn. Năm 1996, thay cho tấm tôn phẳng, một số nông hộ bắt đầu ứng dụng việc sao, sấy chè bằng tấm tôn cuốn, giảm được khoảng 30% sức lao động, nhưng việc vò chè vẫn trông vào đôi chân. Qua đánh giá của cơ quan chức năng, việc chế biến bằng tôn quay, sản phẩm chè có chất lượng không thua kém cách làm truyền thống.
Để giảm công sức của người lao động cũng như nâng cao chất lượng của sản phẩm chè. Năm 1997, đại diện Sở Nông nghiệp & PTNT về Viện cơ điện Nông nghiệp mua 2 chiếc máy vò chè mini VC 300. Đây là loại máy chạy điện 3 pha, nên khi được triển khai chạy thử nghiệm tại hộ ông Nguyễn Văn Việt (xã Tân Cương - T.P Thái Nguyên) và hộ ông Nguyễn Hiền (xã Tức Tranh - Phú Lương), Ngành nông nghiệp phải đầu tư thêm đường điện 3 pha nên gặp rất nhiều khó khăn. Khi đưa máy vò vào sản xuất, chè sau chế biến đảm bảo tiêu chuẩn, không có chè vón, chè cám, chất lượng đảm bảo... Kết quả thực nghiệm việc đưa máy chế biến chè mini vào trực tiếp cho nông hộ đã được các đồng chí lãnh đạo tỉnh quan tâm. Đồng chí Ngô Hai, bấy giờ là Bí thư Tỉnh uỷ đã trực tiếp chỉ đạo cho Công ty Phụ tùng số 1 (Sông Công) nghiên cứu, chế tạo ra loại máy vò chè sử dụng điện 1 pha. Ngay năm sau, máy vò chè chạy điện được sử dụng phổ biến trong các nông hộ.
Đáp ứng nhu cầu của người trồng chè, ngoài số máy vò, máy sao, sấy chè do Công ty Phụ tùng số 1 sản xuất, nhiều cơ sở gò, hàn tư nhân cũng bắt đầu chế tạo ra máy vò, máy sao, sấy chè chạy điện. Khoảng năm 2002, gần như 100% số hộ trồng chè đã đầu tư mua sắm được máy chế biến chè. Sức lao động được giải phóng, người vùng chè hết cảnh “mang” đôi chân, đôi tay đen nhẻm vì nhựa chè ra chợ. Đặc biệt là hằng năm, diện tích chè ngày một rộng hơn, từ năm 2002 đến hết 2007, toàn tỉnh đã trồng mới được 2.287 ha chè, số diện tích chè cho thu hái cũng dần tăng qua các năm, sản lượng chè trong nhân dân đều được chế biến hết. Hiện nay, một số cơ sở chế biến chè như HTX chè Tân Hương (T.P Thái Nguyên) đã đầu tư tôn quay inox thay cho tôn quay đen. Ưu điểm của tôn inox không bị gỉ như tôn đen, qua đó chất lượng chè cũng cao hơn.
|